30 Th7 2020

Kỹ thuật mô thực vật cải thiện khả năng chịu hạn và chịu mặn của cây

Nguồn: CC0 Public Domain.

Sau nhiều năm thử nghiệm, các nhà khoa học đã thiết kế cây thale cress, còn gọi là cây Arabidopsis thaliana, giống như loại cây mọng nước, cải thiện hiệu quả sử dụng nước, khả năng chịu mặn và giảm ảnh hưởng của hạn hán. Kỹ thuật mô mọng nước được tạo ra ở thực vật có hoa nhỏ nhưng cũng có thể sử dụng ở những cây trồng khác để cải thiện khả năng chịu hạn và chịu mặn với mục tiêu hướng đến những cây lương thực và năng lượng sinh học.

“Mô chứa nước là một trong những cách thích nghi thành công nhất giúp cho cây có khả năng sống sót trong thời kỳ hạn hán kéo dài. Tính trạng này trở nên quan trọng hơn khi nhiệt độ trái đất tăng lên, làm tăng cường độ và thời gian hạn hán trong suốt thế kỷ 21”, John Cushman, giáo sư về sinh hóa và sinh học phân tử ở đại học Nevada, đồng tác giả của một bài báo khoa học về mô thực vật mọng nước được đăng trên tạp chí Plant Journal.

Công việc này sẽ được kết hợp với dự án khác của Cushman: tạo ta một tính trạng khác được gọi là chuyển hóa axít crassulacean (CAM), phương thức quang hợp bảo toàn nước có thể được áp dụng cho các cây trồng để tăng hiệu quả sử dụng nước.

 “Hai hoạt động thích nghi này hoạt động cùng nhau”, Cushman, đại học Nông nghiệp, Công Nghệ Sinh Học và Tài nguyên Thiên nhiên, nói “Mục tiêu chung của chúng tôi là thiết kế CAM, nhưng muốn làm được việc này có hiệu quả, chúng tôi phải thiết kế giải phẫu lá nhằm có các tế bào lớn hơn để dự trữ axít malic tích tụ ở cây vào ban đêm. Thêm vào đó, các tế bào có kích thước lớn này cũng phục vụ cho việc tích trữ nước để cây vượt qua hạn hán, pha loãng muối và các ion kim loại mà cây hấp thụ, giúp cây chịu mặn tốt hơn”.

“Khi cây hấp thụ CO2, nó sẽ được hấp thụ qua các lỗ trên lá, được gọi là khí khổng. Cây mở khí khổng để COđi vào và sau đó CO2 sẽ gắn vào đường và các hợp chất khác nhằm hỗ trợ hầu hết sự sống trên trái đất. Nhưng khi khí khổng mở, không chỉ COđi vào mà hơi nước còn thoát ra và vì thế cây thoát hơi nước để làm mát, một lớn lượng lớn nước bị mất đi”.

Nhóm các nhà khoa học của Cushman đã tạo ra cây Arabidopsis thaliana biến đổi gen với kích thước tế bào tăng lên, kết quả là cây lớn hơn với độ dày lá tăng lên, khả năng trữ nước nhiều hơn và khí khổng mở ít hơn để hạn chế mất nước từ lá do sự biểu hiện quá mức của một gen mà các nhà khoa học gọi là VvCEB1. Gen này liên quan đến thời kỳ mở rộng tế bào của sự phát triển quả mọng ở cây nho dùng sản xuất rượu vang.

 

Các mô mọng nước phụ vụ cho hai mục đích.

 

“Các tế bào lớn có không bào lớn để dự trữ malate vào ban đêm, đóng vai trò là nguồn cacbon để giải phóng và tái cố định CO2, nhờ hoạt động của enzym Rubisco, vào ban ngày sau khi khí khổng đóng, do đó hạn chế sự quang hô hấp và mất nước” Cushman nói. “Và mô mọng nước bẫy COđược giải phóng từ quá trình khử caboxyl của malate vì thế CO2 có thể tái cố định hiệu quả hơn bởi enzym Rubisco”.

Một trong những lợi ích của sự biểu hiện quá mức gen VvCEB1 là sự cải thiện quan sát hiệu quả sử dụng nước tức thời và kết hợp của cây, tăng lần lượt lên 2,6 lần và 2,3 lần. Hiệu quả sử dụng nước là tỉ lệ cố định cacbon hay tạo ra sinh khối so với tốc độ thoát hơi nước hay lượng nước mất đi của cây. Những cải thiện này tương quan với độ dày của lá hay mô mọng nước, cũng như mật độ khí khổng ít hơn và giảm các khí khổng mở.

“Chúng tôi đã thử nghiệm trên nhiều gen nhưng chúng tôi chỉ quan sát kiểu hình đáng chú ý với gen VvCEB1”, Cushman nói. “Thông thường chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu từ 10 đến 30 dòng gen chuyển độc lập và sau đó chúng sẽ phát triển hai đến ba thế hệ trước khi tiến hành thử nghiệm chi tiết”.

Arabidopsis thaliana là cây mô hình tốt cho các nghiên cứu về các quá trình sinh trưởng và phát triển ở thực vật. Đây là loại cây nhỏ giống như cỏ dại có vòng đời ngắn khoảng 6 tuần, phát triển tốt và tạo ra một lượng lớn hạt giống trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Kỹ thuật mô mọng nước được mong đợi cung cấp một chiến lược hiệu quả để cải thiện hiệu quả sử dụng nước, tránh hạn hán hay suy giảm và tối ưu hóa hiệu suất CAM.

Thực vật CAM rất thông minh, chúng đóng khí khổng cả ngày và chỉ mở vào ban đêm khi lượng nước bốc hơi thấp do thời tiết mát mẻ và mặt trời không chiếu sáng, Cushman giải thích. Ý nghĩa của CAM được tìm thấy đó là khả năng bảo toàn nước độc nhất vô nhị của nó. Khi hầu hết thực vật hấp thụ CO2 vào ban ngày, thực vật CAM lại hấp thụ COvào ban đêm.

“Về cơ bản, thực vật CAM có hiệu quả sử dụng nước cao 5 đến 6 lần”, ông ấy nói. “Mô mọng nước liên kết với CAM và các tính trạng thích nghi khác như lớp biểu bì dày hơn và sự tích lũy sáp epicuticular, nghĩa là chúng sẽ giảm sự nóng lên của lá vào ban ngày bằng cách phản chiếu một số ánh sáng chiếu vào lá. Nhiều thực vật CAM thích nghi trên sa mạc cũng có khả năng chịu nhiệt độ cao tốt hơn”.

Với dự kiến các sản phẩm nông nghiệp tăng đến 70% để phục vụ dân số ngày càng tăng của con người, dự đoán sẽ đạt 9,6 tỷ người vào năm 2050, Cushman và nhóm nghiên cứu của ông đang theo đuổi các giải pháp về công nghệ sinh học để giải quyết tình trạng thiếu lương thực và năng lượng sinh học trong tương lai.

“Chúng tôi dự định chuyển cả hai kỹ thuật mô mọng nước và CAM vào cây trồng. Công việc hiện tại là bằng chứng của khái niệm này”, Cushman nói.

Nguyễn Thị Kim Thoa theo Phys.org

Link: http://iasvn.org/homepage/Ky-thuat-mo-thuc-vat-cai-thien-kha-nang-chiu-han-va-chiu-man-cua-cay-13452.html

30 Th7 2020

Nghiên cứu mới có thể dẫn đến bước đột phá lớn trong sản xuất cây trồng

Các nhà nghiên cứu nghiên cứu hoạt động của enzyme rubisco và thiết kế bộ gen lục lạp nói rằng khám phá của họ có thể dẫn đến những cải tiến lớn trong quang hợp và thúc đẩy sản xuất cây trồng.

Sử dụng phương pháp SynBio lục lạp, các nhà nghiên cứu đã giải mã được cách thức tiểu đơn vị nhỏ ảnh hưởng đến xúc tác Rubisco của khoai tây.

Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Quốc gia Úc (ANU) dẫn đầu có thể dẫn đến những cải tiến lớn trong sản xuất cây trồng.

Nghiên cứu cho thấy một cách mới để giúp nghiên cứu và tăng cường quang hợp bằng cách xem lại một chiến lược hàng tỷ năm tuổi ở thực vật. Nó đã xem xét cụ thể hoạt động rubisco – một phần quan trọng của quá trình, theo đồng tác giả Giáo sư Spencer Whitney từ Trung tâm ARC về quang hợp tịnh tiến tại ANU. “Rubisco là một enzyme liên quan đến bước đầu tiên của quá trình cố định carbon – nó bắt đầu chuyển đổi carbon dioxide thành đường thực vật”, ông nói. “Tuy nhiên, so với các enzyme khác, rubisco được coi là chất xúc tác chậm, không hiệu quả”.

Nhiều loại enzyme có thể xử lý hàng trăm đến hàng nghìn phân tử mỗi giây, nhưng rubisco chỉ có thể vượt qua hai đến năm chu kỳ mỗi giây. Vì lý do này, từ lâu nó đã được công nhận là mục tiêu tốt để cải thiện quá trình quang hợp – đó là một câu đố mà các nhà khoa học đã xem xét trong nhiều thập kỷ.

Trong thực vật, rubisco được tạo thành từ 16 protein – tám tiểu đơn vị lớn và tám tiểu đơn vị nhỏ. Cho đến nay, các nhà khoa học chỉ có thể làm việc với một tiểu đơn vị tại một thời điểm, theo các nhà nghiên cứu.

“Giờ đây, chúng tôi đã quay ngược đồng hồ một tỷ năm để khắc phục hạn chế này”, giáo sư Whitney nói. “Sau khi áp dụng lại thiết kế bộ gen của tổ tiên vi khuẩn của lục lạp, giờ đây chúng ta có thể làm việc với tất cả các thành phần của rubisco.

“Đây là điều rất quan trọng. Để tăng cường hoạt động của nó, bạn phải thay đổi tất cả các thành phần. Chúng tôi biết rằng chúng tôi đã có thể sửa đổi hoạt tính rubisco trong các loại cây trồng này, vì vậy đó là một nơi tuyệt vời để bắt đầu. Đây mới chỉ là bước đầu tiên – công nghệ này cuối cùng có thể mang đến một thứ gì đó lớn hơn nhiều trong tương lai không xa”.

Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Quốc gia Úc (ANU) dẫn đầu có thể dẫn đến những cải tiến lớn trong sản xuất cây trồng.

Nghiên cứu cho thấy một cách mới để giúp nghiên cứu và tăng cường quang hợp bằng cách xem lại một chiến lược hàng tỷ năm tuổi ở thực vật. Nó đã xem xét cụ thể hoạt động rubisco – một phần quan trọng của quá trình, theo đồng tác giả Giáo sư Spencer Whitney từ Trung tâm ARC về quang hợp tịnh tiến tại ANU. “Rubisco là một enzyme liên quan đến bước đầu tiên của quá trình cố định carbon – nó bắt đầu chuyển đổi carbon dioxide thành đường thực vật”, ông nói. “Tuy nhiên, so với các enzyme khác, rubisco được coi là chất xúc tác chậm, không hiệu quả”.

Nhiều loại enzyme có thể xử lý hàng trăm đến hàng nghìn phân tử mỗi giây, nhưng rubisco chỉ có thể vượt qua hai đến năm chu kỳ mỗi giây. Vì lý do này, từ lâu nó đã được công nhận là mục tiêu tốt để cải thiện quá trình quang hợp – đó là một câu đố mà các nhà khoa học đã xem xét trong nhiều thập kỷ.

Trong thực vật, rubisco được tạo thành từ 16 protein – tám tiểu đơn vị lớn và tám tiểu đơn vị nhỏ. Cho đến nay, các nhà khoa học chỉ có thể làm việc với một tiểu đơn vị tại một thời điểm, theo các nhà nghiên cứu.

“Giờ đây, chúng tôi đã quay ngược đồng hồ một tỷ năm để khắc phục hạn chế này”, giáo sư Whitney nói. “Sau khi áp dụng lại thiết kế bộ gen của tổ tiên vi khuẩn của lục lạp, giờ đây chúng ta có thể làm việc với tất cả các thành phần của rubisco.

“Đây là điều rất quan trọng. Để tăng cường hoạt động của nó, bạn phải thay đổi tất cả các thành phần. Chúng tôi biết rằng chúng tôi đã có thể sửa đổi hoạt tính rubisco trong các loại cây trồng này, vì vậy đó là một nơi tuyệt vời để bắt đầu. Đây mới chỉ là bước đầu tiên – công nghệ này cuối cùng có thể mang đến một thứ gì đó lớn hơn nhiều trong tương lai không xa”.

T.P – Mard, theo Newfoodmagazine

Link:http://iasvn.org/homepage/Nghien-cuu-moi-co-the-dan-den-buoc-dot-pha-lon-trong-san-xuat-cay-trong-13492.html

30 Th7 2020

Bộ cảm biến giúp cung cấp nước cho cây trồng

GD&TĐ – Một kỹ thuật mới do các nhà khoa học thuộc ĐH Khoa học Nông nghiệp bang Pennsylvania của Mỹ sáng chế sẽ hỗ trợ một cách hiệu quả người nông dân trong việc tưới tiêu, ngăn chặn sự lãng phí nước và tránh cho cây thiếu nước. Đó là các bộ cảm biến thực vật đo độ dày và điện dung của lá.

Kiểm soát sự căng thẳng về nước của cây trồng đặc biệt quan trọng ở những khu vực khô cằn thường được thực hiện bằng cách đo độ ẩm của đất hoặc xây dựng các mô hình nhằm tính toán tổng lượng nước bốc hơi ở mặt đất và sự thoát hơi nước của cây trồng.

Tuy nhiên, một kỹ thuật mới do các nhà khoa học thuộc ĐH Khoa học Nông nghiệp bang Pennsylvania của Mỹ sáng chế sẽ hỗ trợ một cách hiệu quả người nông dân trong việc tưới tiêu, ngăn chặn sự lãng phí nước và tránh cho cây thiếu nước. Đó là các bộ cảm biến thực vật đo độ dày và điện dung của lá.

Công trình thử nghiệm được thực hiện trên cây cà chua trong một nhà kính với nhiệt độ không đổi và chu kỳ sáng tối 12 giờ trong 11 ngày. Môi trường tăng trưởng là một hỗn hợp đất, than bùn với lượng nước được ghi nhận bằng một cảm biến đo độ ẩm đất.

Hàm lượng nước trong đất được duy trì ở mức tương đối cao trong ba ngày đầu và sau đó được phép khử nước, trong thời gian 8 ngày. Các nhà nghiên cứu chọn ngẫu nhiên sáu chiếc lá đã được tiếp xúc trực tiếp với nguồn ánh sáng và gắn cảm biến vào chúng, tránh các gân lá chính và các cạnh. Họ ghi lại các số liệu trong khoảng năm phút một lần.

Sự thay đổi độ dày của lá hằng ngày là không đáng kể khi độ ẩm của đất dao động từ cao đến điểm héo. Tuy nhiên, sự thay đổi đã được ghi nhận ở ẩm độ đất thấp hơn điểm héo và độ dày này ổn định trong hai ngày cuối cùng của thí nghiệm khi hàm lượng hơi nước đạt 5%.

Điện dung ở lá gần như không đổi ở một giá trị tối thiểu trong suốt thời kỳ tối và tăng nhanh trong thời kỳ sáng, cho thấy nó phản ánh hoạt động quang hợp. Các biến thể điện dung hằng ngày biến đổi khi độ ẩm của đất dưới điểm héo và hoàn toàn giảm xuống dưới mức dung lượng nước 11%, cho thấy ảnh hưởng của áp suất nước lên điện dung đã được quan sát qua ảnh hưởng của nó đối với quang hợp.

Nhà khoa học Amin Afzal, thuộc ĐH bang Pennsylvania, thành viên nhóm nghiên cứu nói: “Độ dày của lá giống như một quả bóng – nó phồng lên do sự hydrat hóa và co lại bởi sự căng thẳng của nước, hay mất nước”.

 

Cơ chế đằng sau mối quan hệ giữa điện dung của lá và nước là phức tạp. Điện dung của lá thay đổi để đáp ứng sự thay đổi tình trạng nước của cây trồng và ánh sáng xung quanh.Vì vậy, việc phân tích chiều dày lá và biến thể điện dung cho thấy tình trạng nước của cây được cung ứng tốt hay là bị khô hạn.

Nghiên cứu này cũng nhằm phát triển một hệ thống mà các cảm biến gắn trên lá sẽ gửi thông tin chính xác về độ ẩm thực vật tới một đơn vị trung tâm ở cánh đồng, sau đó truyền thông theo thời gian thực cùng hệ thống tưới tiêu để tưới cho cây trồng. Các cảm biến có thể được cung cấp điện không dây với pin hoặc pin mặt trời.

Trong một nghiên cứu tiếp theo, Afzal vừa hoàn thành việc đánh giá cảm biến lá trên cây cà chua trong nhà kính.Ngoài ra, ông đang phát triển một thuật toán để chuyển biến dạng độ dày và điện dung của các lá phiếu sang các thông tin có ý nghĩa về tình trạng nước cây.

Theo Sciencedaily

Link:https://giaoducthoidai.vn/bo-cam-bien-giup-cung-cap-nuoc-cho-cay-trong-3693531.html

 

15 Th7 2020

Lâm Đồng: Ứng dụng IoT trong canh tác cây dâu tây, cà chua

Đà Lạt (Lâm Đồng) được biết đến là thành phố sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hàng đầu của cả nước. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp của thành phố liên tục tăng trưởng, phát triển toàn diện.

Trong 2 năm (2018 – 2019), Trung tâm Nông nghiệp TP. Đà Lạt đã triển khai mô hình “Ứng dụng IoT trong việc tưới nước và châm phân tự động điều khiển qua điện thoại dựa trên cảm biến và phần mềm phân tích trên cây dâu tây và cà chua trồng trên giá thể trong nhà kính” tại phường 7, thành phố Đà Lạt.

Khác với những cây trồng dưới nền đất, cây dâu tây và cà chua trồng trên giá thể rất nhạy cảm với môi trường vùng rễ, rễ cây sẽ không phát triển tốt khi độ EC, pH trong giá thể quá cao hay quá thấp. Nếu không được giám sát chặt chẽ lượng phân bón và nước tưới thì cây rất dễ bị cháy rễ và cháy lá ảnh hưởng lớn đến kết quả mùa vụ.

Anh Cao Văn Thể, chủ nông trại trồng dâu tây giá thể ở phường 7, nông hộ tham gia mô hình cho biết: “Sử dụng hệ thống tưới và châm phân tự động đã tiết kiệm được đến 30% lượng phân, nước. Điểm khác biệt giữa tưới nước và châm phân tự động và các hệ thống tưới nhỏ giọt khác hiện có trên thị trường là ở cách thức hoạt động. Trong khi các hệ thống tưới nhỏ giọt thông thường cung cấp nước theo áp lực thì tưới nước và châm phân tự động phân phối nước và châm phân theo lưu lượng, đúng nhu cầu của từng cây và chính xác đến từng lít nước. Vì thế, tránh được việc dư thừa và thất thoát lượng phân bón, nước tưới, tiết kiệm được chi phí đáng kể”.

Theo lời chia sẻ của anh Phạm Minh Tuấn, nông hộ tham gia mô hình trồng cà chua: Thời gian nghỉ tết anh cứ để giải pháp IoT tự động chăm sóc, tưới tiêu cho vườn, phần mềm tự quản lý, theo dõi tình trạng từng cây, có thông số nào bất ổn cần điều chỉnh sẽ báo trên ứng dụng điện thoại. Lúc đó, anh chỉ việc mở ứng dụng và điều chỉnh từ xa chứ không cần trực tiếp lên vườn. Nhờ giải pháp ứng dụng IoT trong việc tưới nước và châm phân tự động mà tết này anh có thời gian quây quần bên gia đình mà vườn vẫn “tự động tươi tốt”.

Sử dụng IoT trong canh tác cây cà chua

Qua chia sẻ của các nông hộ tham gia mô hình có thể khẳng định rằng, việc ứng dụng IoT trong việc tưới nước và châm phân tự động cho các loại cây trồng đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho nhà nông. Từ đó, giúp cho nhà nông tăng thu nhập trên diện tích đất canh tác, giảm thiểu được rủi ro trong quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm sạch, an toàn đến người tiêu dùng.

Nguồn: http://nhanongxanh.vn/nha-nong-xanh/lam-dong-ung-dung-iot-trong-canh-tac-cay-dau-tay-ca-chua-137846/

15 Th7 2020

Lão Tỵ – ‘Vua’ sáng kiến dẫn thủy nhập điền

Lão Tỵ lợi dụng thủy triều lên xuống, sáng tạo cách dẫn nước ngọt vào từng vườn cây, giúp nhiều hộ quanh vùng “bỏ túi” hàng trăm triệu đến cả tỷ đồng mỗi năm…

Bắt nước chảy theo ý mình!

Trong những ngày khô khát này, đến xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng, Bình Dương, men theo mé sông Sài Gòn, mọi người sẽ nhìn thấy những vườn cây ăn quả xanh ngắt, trĩu quả mà không cần tới sự can thiệp của bất kỳ một thiết bị bơm tưới nào. Những con mương lớn, nhỏ tua tủa, thẳng tấp đầy ắp nước dẫn tới từng gốc cây ăn quả. Thỉnh thoảng, chúng tôi bắt gặp nhà nông đang thu hoạch trái cây với vẻ mặt đầy hứng khởi vì được mùa.

Khi được hỏi về người có công đầu trong việc sáng kiến “dẫn thủy nhập điền” vào vườn cây ăn quả, người dân địa phương chỉ ngay đến nhà ông Nguyễn Văn Tỵ, ngụ Ấp Suối Cát. Điểm đáng quý ở ông Tỵ là không hề giấu nghề, khi áp dụng thành công cho gia đình mình, bà con trong xã tới học hỏi kinh nghiệm đều được ông tận tình hướng dẫn nên ông rất được bà con quý mến.

Sáng kiến từ 'dẫn thủy nhập điền' của lão Tỵ. Ảnh: Trần Trung.

Sáng kiến từ “dẫn thủy nhập điền” của lão Tỵ. Ảnh: Trần Trung.

Ông Tỵ kể, ông vốn sinh ra và lớn lên tại vùng Thạnh Lộc, Quận 12, nơi được mệnh danh thủ phủ lúa gạo của TP.HCM. Cả tuổi thơ của ông gắn liền với cách người dân nơi đây “dẫn thủy nhập điền” phục vụ cho việc đồng áng. Thành phố ngày càng phát triển, khu công nghiệp mọc lên ngày càng nhiều, diện tích đất nông nghiệp càng thu hẹp, cuộc sống nhà nông càng khốn khó. Năm 2.000 ông quyết định rời phố đến huyện Dầu Tiếng lập nghiệp và vùng đất Thanh Tuyền ven sông Sài Gòn được ông chọn là quê hương thứ 2.

Ông Tỵ cho biết, nhận thấy đất đai ở đây màu mỡ nên ông chọn cây măng cụt để canh tác. Thế nhưng, cũng giống như các loài cây ăn quả khác, măng cụt đòi hỏi rất nhiều nước tưới, trong khi địa phương vẫn chưa có điện lưới quốc gia kéo về, để tưới cây trồng phải phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng máy dầu, vừa tốn chi phí trong khi hiệu quả không cao. Từ kinh nghiệm sẵn có ở quê, ông nảy sinh ý tưởng dẫn nước từ sông vào vườn, không ngờ hiệu quả ngoài mong đợi.

Ông Tỵ chia sẻ, chỉ cần một con mương chính có bề ngang chừng 1 mét, sâu 1-2 mét nối từ mé sông đến tận vườn cây ăn quả, tùy vào khoảng cách sẽ có sự điều chỉnh mương nước cho phù hợp. Tiếp đó, từng hàng cây ăn quả sẽ đào thêm những con mương phụ, khi thủy triều lên, nước từ sông sẽ men theo các con mương dẫn vào vườn và ngược lại. Ngoài ra, để điều tiết nước hợp lý, ông lắp đặt hệ thống ống đáy kết hợp van khóa, tùy vào thời vụ của vườn chỉ cần đóng hoặc mở van, nước sẽ được giữ lại hay xả ra.

Các ống này giúp nhà nông chủ động tưới nước và bón phân mà không tốn công sức. Ảnh: Trần Trung.

Các ống này giúp nhà nông chủ động tưới nước và bón phân mà không tốn công sức. Ảnh: Trần Trung.

“Đặc biệt, những con mương còn được tận dụng để bón phân cho cây trồng, theo đó, mỗi đợt bón phần chỉ cần xả hết nước từ mương ra, sau đó rải phân theo các con mương, phân sẽ tự ngấm xuống lòng đất, cây sẽ hấp thu tối đa lượng phân đã bón. Cách làm này đã giúp tiết kiệm được hàng chục triệu đồng tiền vật tư, hàng trăm ngày công lao động”, ông Tỵ nói.

Theo ông Tỵ, nhờ vào sáng kiến của mình, vườn măng cụt của ông có năng suất vượt trội hơn các địa phương khác. Chỉ với 150 gốc măng cụt thế nhưng mỗi năm ông thu hoạch hơn 5 tấn, với giá trung bình 50.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, tiền lãi thu về không dưới 200 triệu đồng.

Biến đất bạc thành vùng trái cây trù phú

Từ những thành công được khẳng định, nhiều năm liền ông đạt danh hiệu nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh. Ngoài ra, ông còn được bà con địa phương tín nhiệm bầu làm tổ trưởng tổ liên kết trồng măng cụt.

Theo đó, tổ được thành lập vào năm 2010 với 16 tổ viên, tổng diện tích canh tác gần 20 ha. Từ cây trồng chỉ để “vui”, đến nay, dưới sự dẫn dắt của ông Tỵ, bà con đã đổi mới trong phương thức sản xuất, toàn bộ diện tích đất canh tác của bà con đã ứng dụng cách làm của ông. Nhờ vậy, nhiều hộ thu nhập từ hàng trăm đến cả tỷ đồng/năm.

Những mương lớn dẫn nước tới chân vườn. Ảnh: Trần Trung.

Những mương lớn dẫn nước tới chân vườn. Ảnh: Trần Trung.

Tổ viên Nguyễn Văn Bừa ngụ ấp Bưng Cồng, xã Thành Tuyền có 2 ha đất sát sông Sài Gòn. Trước đây anh chỉ canh tác lúa, mỗi năm làm 2 vụ thu nhập không đáng là bao, đến mùa giáp hạt phải chạy ăn từng bữa. Được sự tư vấn của ông Tỵ, 10 năm trước anh Bừa chuyển đổi toàn bộ diện tích đất trên sang trồng măng cụt. Nhờ áp dụng đúng quy trình kỹ thuật tổ hợp tác đặt ra, chỉ sau 4 năm trồng cây đã cho quả ngọt. Nhờ  cây măng cụt mà anh Bừa đã có tiền cất nhà, chăm lo con cái ăn học, cuộc sống ngày một ổn định.

Anh Bừa cho biết, trong ký ức của nhiều nông dân ở đây, đất Thanh Tuyền “bạc” lắm, hồi đó vùng đất ven sông này chủ yếu là trồng lúa, đất gò thì trồng điều. Năng suất lúa, điều ở đây lúc đó rất thấp nên nhiều gia đình phải trồng thêm hoa màu để có cái ăn, cái mặc. Thế nhưng, từ cây măng cụt, những năm trở lại đây ai cũng khấm khá, có của ăn của để, công lớn là nhờ và sự tận tâm, tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm của ông Nguyễn Văn Tỵ tổ trưởng tổ liên kết.

Sự kiện đặc biệt của măng cụt Dầu Tiếng

Dựa trên nền tảng tổ liên kết trồng măng cụt do ông Tỵ làm tổ trưởng, vừa qua Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Măng cụt Dầu Tiếng”.  Đây là một sự kiện đặc biệt có ý nghĩa đối với nhà nông bởi sản phẩm họ bỏ công trồng trọt, chăm sóc đã được chứng nhận. Điều này khẳng định, măng cụt Dầu Tiếng không chỉ là một sản phẩm nông nghiệp thuần túy mà còn được bảo vệ thương hiệu khi sản phẩm lưu thông trên thị trường.

Vườn măng cụt xanh tốt của ông Tỵ cạnh sông Sài Gòn. Ảnh: Trần Trung.

Vườn măng cụt xanh tốt của ông Tỵ cạnh sông Sài Gòn. Ảnh: Trần Trung.

Có thể nói, việc phát triển tài sản trí tuệ đối với măng cụt Dầu Tiếng không chỉ hứa hẹn nâng tầm trái măng cụt mà còn tạo bước đệm cho nhiều sản phẩm khác của tỉnh khẳng định thương hiệu của mình. Đồng thời, góp phần nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ của người dân và doanh nghiệp, khuyến khích từng địa phương, doanh nghiệp và hộ nông dân nâng cao tinh thần đoàn kết, cùng nhau gìn giữ và phát triển sản phẩm nông sản đặc trưng.

Đặc biệt, niềm vui tiếp tục đến với tổ liên kết trồng măng cụt nói riêng, chính quyền xã Thanh tuyền nói chung, UBND huyện Dầu Tiếng vừa tổ chức phê duyệt quy hoạch tổng thể dự án phát triển vườn cây ăn trái đặc sản măng cụt gắn với du lịch. Theo đó, vùng đặc sản  măng cụt của xã Thanh Tuyền sẽ mở rộng gấp 3 lần diện tích hiện tại lên 150 ha.

Với quyết tâm đồng hành phát triển cùng kinh tế địa phương, mong mỏi lớn nhất của lão nông Nguyễn Văn Tỵ là có thể cùng bà con trong xã đẩy mạnh phát triển loại cây ăn trái cho hiệu quả kinh tế cao này, từng bước đưa Thanh Tuyền trở thành vùng chuyên canh cây măng cụt lớn ở khu vực Đông Nam bộ.

Nguồn: https://nongnghiep.vn/lao-ty–vua-sang-kien-dan-thuy-nhap-dien-d267864.html

15 Th7 2020

Phổ biến phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy bay không người lái

Hiện nay, với xu thế công nghệ hóa trong nông nghiệp, việc áp dụng hệ thống phun thuốc BVTV bằng thiết bị bay không người lái (drone) đã cho thấy được nhiều sự tiện ích.

Do nhu cầu phát triển công nghệ số 4.0 trong nông nghiệp ngày càng cao, các doanh nghiệp và HTX tại ĐBSCL đã trang bị máy bay không người lái để làm dịch vụ phun thuốc BVTV cho nông dân trên lúa, rau màu và cây ăn trái.

Do nhu cầu phát triển công nghệ số 4.0 trong nông nghiệp ngày càng cao, các doanh nghiệp và HTX tại ĐBSCL đã trang bị máy bay không người lái để làm dịch vụ phun thuốc BVTV cho nông dân trên lúa, rau màu và cây ăn trái.

Điển hình là Cty Cổ phần Nicotex Cần Thơ ứng dụng công nghệ 4.0, mở thêm dịch vụ với tên gọi là 'Phòng trừ dịch hại BVTV bằng công nghệ cao Nicotex fly' để phục vụ bà con nông dân.

Điển hình là Cty Cổ phần Nicotex Cần Thơ ứng dụng công nghệ 4.0, mở thêm dịch vụ với tên gọi là “Phòng trừ dịch hại BVTV bằng công nghệ cao Nicotex fly” để phục vụ bà con nông dân.

Ông Tạ Vĩnh Sơn, Phó GĐ Cty Cổ phần Nicotex Cần Thơ cho biết: Cty đã thành lập đội phòng trừ dịch hại BVTV công nghệ cao drone cho bà con nông dân ở ĐBSCL gần một năm nay. Bình quân mỗi vụ lúa Cty làm dịch vụ phun thuốc BVTV gần 1.000ha, với giá tiền công là 20.000 đồng/công.

Ông Tạ Vĩnh Sơn, Phó GĐ Cty Cổ phần Nicotex Cần Thơ cho biết: Cty đã thành lập đội phòng trừ dịch hại BVTV công nghệ cao drone cho bà con nông dân ở ĐBSCL gần một năm nay. Bình quân mỗi vụ lúa Cty làm dịch vụ phun thuốc BVTV gần 1.000ha, với giá tiền công là 20.000 đồng/công.

Với sự hỗ trợ của drone trong canh tác cây trồng giúp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên nước và quan trọng nhất bảo vệ sức khỏe người nông dân tốt hơn do không cần trực tiếp phun thuốc.

Với sự hỗ trợ của drone trong canh tác cây trồng giúp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên nước và quan trọng nhất bảo vệ sức khỏe người nông dân tốt hơn do không cần trực tiếp phun thuốc.

Drone bay trên đồng ruộng cao khoảng 3-5m (tùy theo độ tuổi của lúa) phun thuốc hạt thuốc khi ra khỏi đầu phun có kích cỡ rất nhỏ và mịn, giúp nhà nông giảm thiểu lượng nước thực tế cần dùng mà vẫn đảm bảo độ trải đều bề mặt và mang lại hiệu quả cao.

Drone bay trên đồng ruộng cao khoảng 3-5m (tùy theo độ tuổi của lúa) phun thuốc hạt thuốc khi ra khỏi đầu phun có kích cỡ rất nhỏ và mịn, giúp nhà nông giảm thiểu lượng nước thực tế cần dùng mà vẫn đảm bảo độ trải đều bề mặt và mang lại hiệu quả cao.

Một số lợi ích mà drone mang lại, như: giúp tăng năng suất lao động từ 15 đến 30 lần,  giúp giảm giá thành sản xuất, rút ngắn thời gian phun thuốc trên 1 đơn vị diện tích. Đặc biệt giảm 30% lượng thuốc BVTV so với phun xịt thông thường để phòng trị dịch hại. 

Một số lợi ích mà drone mang lại, như: giúp tăng năng suất lao động từ 15 đến 30 lần,  giúp giảm giá thành sản xuất, rút ngắn thời gian phun thuốc trên 1 đơn vị diện tích. Đặc biệt giảm 30% lượng thuốc BVTV so với phun xịt thông thường để phòng trị dịch hại.

Theo ông Sơn, drone áp dụng công nghệ phun li tâm giọt nước xoáy tròn giúp cho việc tiếp xúc sâu bệnh mặt dưới lá hiệu quả hơn, phun thuốc dập dịch nhanh, chủ động thời gian phun thuốc, với khả năng phun thuốc vào ban đêm.

Theo ông Sơn, drone áp dụng công nghệ phun li tâm giọt nước xoáy tròn giúp cho việc tiếp xúc sâu bệnh mặt dưới lá hiệu quả hơn, phun thuốc dập dịch nhanh, chủ động thời gian phun thuốc, với khả năng phun thuốc vào ban đêm.

Phun thuốc chính xác với việc kiểm soát công nghệ phun trên máy bay, ứng dụng chuẩn đoán dịch hại đồng bộ dữ liệu với máy bay phun tự động vào khu vực có dịch hại, giảm tổn thất sản lượng lúa từ 1-2%/ha so với phun xịt thuốc thông thường do lúa không bị dẫm đạp.

Phun thuốc chính xác với việc kiểm soát công nghệ phun trên máy bay, ứng dụng chuẩn đoán dịch hại đồng bộ dữ liệu với máy bay phun tự động vào khu vực có dịch hại, giảm tổn thất sản lượng lúa từ 1-2%/ha so với phun xịt thuốc thông thường do lúa không bị dẫm đạp.

Và đặc biệt hơn với hỗ trợ của drone trong canh tác cây trồng sẽ giúp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên nước. 

Và đặc biệt hơn với hỗ trợ của drone trong canh tác cây trồng sẽ giúp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên nước.

Bình quân chiếc máy bay không người lái giá trị từ 250-400 triệu đồng. Có thể phun 16 lít thuốc cho lần bay, bình quân mỗi ngày drone hoạt động phun thuốc BVTV từ 20-25ha/ngày.

Bình quân chiếc máy bay không người lái giá trị từ 250-400 triệu đồng. Có thể phun 16 lít thuốc cho lần bay, bình quân mỗi ngày drone hoạt động phun thuốc BVTV từ 20-25ha/ngày.

Máy hoạt động công suất phun khoảng 10-15 phút/ha (tùy theo sức gió trên đồng ruộng). Nếu cây trồng bị dịch bệnh tấn công thì drone hỗ trợ dập dịch nhanh và tiết kiệm được thời gian quản lý dịch hại cho người nông dân.

Máy hoạt động công suất phun khoảng 10-15 phút/ha (tùy theo sức gió trên đồng ruộng). Nếu cây trồng bị dịch bệnh tấn công thì drone hỗ trợ dập dịch nhanh và tiết kiệm được thời gian quản lý dịch hại cho người nông dân.

Ông Nguyễn Văn Tâm, ở xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ cho biết: 'Trong vụ Thu Đông năm nay gia đình canh tác 6ha, hiện trà lúa được 45 ngày tuổi đang bị bệnh đạo ôn. Vì vậy tôi thuê dịch vụ phun thuốc BVTV bằng drone tiết kiệm được chi phí khoảng 30% trên lần phun và bảo vệ được sức khỏe vì không tiếp xúc với thuốc BVTV'.

Ông Nguyễn Văn Tâm, ở xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ cho biết: “Trong vụ Thu Đông năm nay gia đình canh tác 6ha, hiện trà lúa được 45 ngày tuổi đang bị bệnh đạo ôn. Vì vậy tôi thuê dịch vụ phun thuốc BVTV bằng drone tiết kiệm được chi phí khoảng 30% trên lần phun và bảo vệ được sức khỏe vì không tiếp xúc với thuốc BVTV”.

Nguồn: https://nongnghiep.vn/phun-thuoc-bvtv-bang-may-bay-khong-nguoi-lai-d268151.html

error: Content is protected !!
Hotline: 0988 73 75 77